Linh mục tử đạo giáo phận Qui Nhơn

  1. THỜI THƠ ẤU VÀ TRƯỞNG THÀNH TẠI QUÊ NHÀ

Thánh Phanxicô Isidore Gegelin Kính sinh ngày 10 tháng 5 năm 1799 tại Montperreux, giáo phận Besançon, nước Pháp. Cha là ông Charles François Gagelin (1747-1803), mẹ là bà Marie Claudine Monnier de Chaudron (1788-1827). Thời điểm thánh Phanxicô Isidore Gagelin chào đời cũng chính là thời điểm Giáo hội Pháp đang bị xáo trộn do cuộc Cách Mạng Pháp đang diễn ra (1789-1799). Chính lý do này nên gần một năm sau, tức ngày 14 tháng 7 năm 1710, cậu Phanxicô Isidore Gagelin mới được lãnh nhận bí tích Rửa tội.

Khi lên bốn tuổi, cha cậu qua đời, để lại người vợ hiền và bốn người con, hai trai hai gái. Gagelin, con út của gia đình được mẹ và hai chị cưng chiều nên sinh ngỗ nghịch và bướng bỉnh. Người góa phụ hiền lành, đạo đức kiên tâm cầu nguyện và nhẫn nại dạy dỗ đứa con trai duy nhất của mình. Nhờ sự chăm sóc của mẹ, năm 11 tuổi, Phanxicô Isidore Gagelin được xưng tội rước lễ lần đầu.

Năm 1812, chính phủ nước Pháp ký hoà ước với Giáo Hội, đạo Công giáo được phép trở lại hoạt động bình thường, cha chánh xứ Montperreux chính thức mở trường tại xứ đạo. Cậu Phanxicô Isidore Gagelin may mắn có trường ngay tại nhà xứ để tiếp tục đi học.

Từ khi được xưng tội rước lễ lần đầu, nhờ ơn Chúa, cậu Phanxicô Isidore Gagelin thay đổi tính tình một cách lạ lùng. Cậu trở nên một học sinh hiền hoà, điềm đạm và lễ độ. Mẹ và hai chị vô cùng sung sướng khi thấy cậu được Chúa biến đổi cách lạ thường như vậy.

Tại nhà trường cậu Phanxicô Isidore Gagelin là một học sinh chăm học và gương mẫu. Các thầy cô rất thương và cha chánh xứ cũng rất quí mến. Về nhà cậu biết lo lắng chăm sóc mẹ, sẵn sàng giúp đỡ các chị thu dọn các việc trong nhà. Cậu thích được nghe mẹ kể chuyện về người cha của cậu, một người cha là thầy giáo mẫn tiệp, tận tụy, đầy tinh thần trách nhiệm, một gia trưởng gánh vác cuộc sống gia đình.

Marie Thérèse, chị lớn của Gagelin, kể lại “câu chuyện tiên tri” về cậu rằng: “Một hôm trời mưa bão rất lớn, mưa đổ xuống như thác lũ, cậu Gagelin từ chuồng thỏ ở ngoài vườn chạy về áo quần ướt sũng. Chị vội lấy quần áo khô cho cậu thay thì cậu em vui cười nói với chị: Chị để em thử xem em có chịu được lạnh không, vì biết đâu sau này em phải đi giảng đạo ở nơi xa thì sao”. Cô chị sững sờ trước câu nói của cậu em. Bà mẹ nghe cậu nói thì cười. Nhưng ý Chúa thật nhiệm mầu, có ai biết được ân sủng của Chúa đã hoạt động trong tâm hồn cậu bé Gagelin thật sớm như thế.

Ơn Chúa cứ tiếp tục đổ vào tâm hồn cậu bé Gagelin. Năm 18 tuổi, ngày 5 tháng 11 năm 1817, Gagelin nhận ra tiếng Chúa gọi và chập chững bước vào Đại Chủng viện Besançon. Sau hai năm theo học tại Đại Chủng viện Besançon, thầy Phanxicô Isidore Gagelin chính thức xin gia nhập Hội Thừa Sai Paris với ước nguyện sẽ được đi truyền giáo tại Viễn Đông.

Ngày 24 tháng 5 năm 1820, thầy Phanxcô Isidore Gagelin được Bề trên Hội Thừa Sai cho chịu chức Năm (phụ phó tế) và được chỉ định làm việc truyền giáo tại giáo phận Đàng Ngoài.

2. THI HÀNH SỨ MẠNG

Theo lệnh Bề trên, thầy Phanxcô Isidore Gagelin đáp tàu từ Bordeaux đi Macao rồi từ Macao đáp tàu đến Việt Nam. Ngày 17 tháng 5 năm 1821, thầy Phanxcô Isidore Gagelin chính thức hiện diện trên đất Việt tại cửa Thuận An, Huế. Lúc bấy giờ lệnh Vua Minh Mạng kiểm soát gắt gao không cho các thừa sai lên bờ. Thầy được giáo dân lén đón và đưa đến trình diện Đức Cha Labartette đang ở Cổ Vưu, Quảng Trị.

ức Cha Labartette chỉ định thầy Gagelin đến Chủng viện An Ninh để học tiếng Việt trước khi đến Đàng Ngoài, cánh đồng truyền giáo thầy được Bề trên chỉ định. Ở Chủng viện thầy vừa học tiếng Việt vừa giúp dạy tiếng La tinh cho các chủng sinh. Ở đây, thầy Gagelin nhận thêm một tên mới “đặt sệt” tính Việt: Thầy Kính. Tính toán của con người không qua khỏi sự quan phòng của Thiên Chúa: Thừa sai Gagelin không làm việc ở Đàng Ngoài mà phải làm việc ở Đàng Trong.

Số là, vừa hơn hai tháng thầy Gagelin ở Chủng viện An Ninh, ngày 08 tháng 8 năm 1821, Đức cha Audemar, Giám mục phó giáo phận Đàng Trong và là Giám đốc Chủng Viện An Ninh qua đời. Thầy Gagelin phải đảm nhiệm tất cả công việc huấn luyện ở Chủng viện trong khi chờ đợi có cha Giám đốc mới. Cuối năm, cha Jarot được bổ nhiệm làm Giám đốc Chủng viện với sự cộng tác của thầy Gagelin.

Ngày 28/9/1822, Đức cha Labartette truyền chức linh mục cho thầy Gagelin Kính và hai thầy Việt Nam là thầy Xuân và  thầy Văn tại họ Nhứt Đông, Cổ Vưu, Quảng Trị. Sau khi thụ phong linh mục, cha Gagelin Kính tiếp tục làm giáo sư Chủng viện An Ninh và làm mục vụ tại các xứ lân cận.

Họa vô đơn chí cho cánh đồng truyền giáo Đàng Trong. Trong vòng chưa đầy ba tháng, Giáo phận đón nhận liên tiếp hai đại tang, ngày 22 tháng 5 năm 1823, cha Jarot, Giám đốc Chủng viện An Ninh qua đời. Hơn hai tháng sau, ngày 06 tháng 8 năm 1823, Đức cha Labartette, Giám mục giáo phận Đàng Trong qua đời. Lúc bấy giờ tại giáo phận chỉ có 03 thừa sai: Cha Thomassin, cha Taberd và cha Gagelin. Cha Gagelin một mình cáng đáng công việc huấn luyện tại Chủng viện. Ngày 24 tháng 5 năm 1824, Cha Thomassin, Bề trên giáo phận cũng sớm sum họp với anh em thừa sai dưới lòng đất. Như vậy, lúc bấy giờ chỉ còn 2 thừa sai trong giáo phận, cha Taberd và cha Gagelin.

Vì tình trạng cấm cách, từ năm 1823, Cha Thomassin đã lệnh cho cha Gagelin đưa các chủng sinh ở Chủng viện An Ninh vào Lái Thiêu. Thời bấy giờ tuy miền Nam cũng trong thời kỳ cấm đạo nhưng nhờ ảnh hưởng của Tả Quân Lê Văn Duyệt, Giáo hội ở miền Nam tạm được yên ổn, bằng an hơn ở miền Trung. Cha Gagelin làm giáo sư tại Chủng viện Lái Thiêu được một thời gian không lâu thì lệnh bắt đạo trở nên sôi động, Chủng viện phải đóng cửa.

Tạm nghỉ làm việc ở Chủng viện, cha Gagelin đi mục vụ ở Hà Tiên, một vùng truyền giáo cách xa với Lái Thiêu. Từ lâu, đoàn tín hữu ở Hà Tiên “mồ côi cha” nên sự hiện diện của cha Gagelin đã đem lại cho họ nhiều an ủi. Năm 1826, cha trở về Đồng Nai, một vùng truyền giáo đã chịu sự tàn phá khủng khiếp của trận dịch hạch, nhiều người chết mà không có bóng dáng của một linh mục để giúp đỡ họ trong giờ sau hết. Vượt qua sự mệt mỏi sau chặng hành trình, cha Gagelin lao vào giúp đỡ những con người đang gặp khốn khổ.

Để hạn chế việc truyền giáo, viện cớ cần người thông ngôn và dịch sách cho triều đình, ngày 16 tháng 6 năm 1827, vua Minh Mạng ra lệnh tập trung về Huế ba vị thừa sai : Tabert Từ, Gagelin Kính và Odorico Phương (Dòng Phanxicô). Ba tháng đầu, các cha bị giam lỏng tại Cung Quán, thỉnh thoảng có thể làm việc mục vụ cho giáo hữu ở các vùng lân cận, tuy nhiên lúc nào cũng có lính gác, đi đâu cũng lính đi kèm. Trong một chuyến công du về kinh hồi tháng 8 năm 1827, Tả Quân Lê Văn Duyệt đã can thiệp với Vua, ba vị thừa sai được trả tự do. Ngày 18 tháng 9 năm 1827, cha Taberd được Tòa thánh bổ nhiệm làm Giám mục giáo phận Đàng Trong.

Ngày 1 tháng 6 năm 1828, cha Gagelin Kính lên đường trở về miền Nam. Cha đi mục vụ trong khắp vùng từ Đồng Nai đến Vũng Tàu, Bà Rịa, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Hà Tiên, Châu Đốc. Đến năm 1829 cha trở lại Chủng viện Lái Thiêu. Sau khi Đức cha Tabert Từ được tấn phong Giám mục tại Thái Lan (10/5/1830), Đức cha trở về Lái Thiêu và bổ nhiệm cha Gagelin làm Bề trên địa phận và giao địa bàn mục vụ cho cha gồm các tỉnh ở miền Trung: Phú Yên, Bình Định và Quảng Ngãi (giáo phận Qui Nhơn ngày nay).

Trong khi cha Gagelin thi hành sứ vụ tại Bình Định, một hôm được một giáo dân mật báo cho cha biết biết nguồn tin được tiết lộ từ một vị quan, là sắp có cuộc truy bắt các linh mục Tây phương trong miền này theo lệnh Vua ban hành ngày 06 tháng 1 năm 1833. Được mật báo, cha Gagelin khăn gói lên miền núi Bắc Bình Định, lãnh địa của các bộ tộc thiểu số, vừa để tạm lánh cuộc truy lùng của triều đình Minh Mạng, vừa để tiếp cận với các bộ tộc thiểu số vùng Trường Sơn Tây Nguyên mà ngài đã dự định từ trước.

Trong lúc cha ẩn trú trên miền Thượng, nhiều giáo hữu ở Bồng Sơn bị bắt và bị tra tấn để khai thác danh sách và nơi ẩn trú của các linh mục. Biết đoàn chiên bị lâm nạn. Cha viết thư thỉnh ý Đức Giám mục cho cha ra nộp mình nếu điều đó tốt hơn là để đoàn chiên bị tan tác. Cuối tháng 5 năm 1833, cha nhận được thư của Đức cha Taberd. Sau đó không lâu, cha đến trình diện tại pháp đình Long Quan, huyện Bồng Sơn, tỉnh Bình Định.

Thế là cha bị giữ tại Long Quan 15 ngày, sau đó cha được chuyển giao cho quan huyện Bồng Sơn và theo lệnh Vua Minh Mạng, cha được áp giải về kinh đô nộp cho triều đình. Đội lính áp giải cha tới Huế vào ngày 23 tháng 8 năm 1833. Cha được đưa ngay vào nhà giam ở Trấn Phủ. Nơi đây cha gặp được cha Jaccard Phan thuộc Hội Thừa Sai Paris, cha Odôricô Phương dòng Phanxicô bị bắt tại Cái Nhum. Ba anh em linh mục thừa sai sum họp với nhau trong chốn lao tù được một thời gian ngắn. Cha Jaccard Phan và cha Odôricô Phương bị lưu đày ở Lao Bảo, giáp ranh với nước Lào. Cha bề trên Phanxicô Isidore Gagelin Kính bị giam lại ở Trấn Phủ, chịu án xử giảo vào ngày 17 tháng 10  năm 1833 tại Bãi Dâu, Huế với bản án được tuyên: “Dương nhân Hoài Hóa mang tội truyền giảng đạo Gia Tô tại nhiều tỉnh nước ta, nên phải xử giảo”. Như vậy, cha Gagelin Kính có được tên “cúng cơm” Hoài Hóa do các quan dịch từ tên gọi Gagelin. Sau cuộc tử đạo của cha Bề trên Kính, hai anh em linh mục cùng chịu tù ngục vì Chúa cũng lần lượt hy sinh vì đức tin. Cha Odôricô Phương chết rũ tù tại Lao Bảo ngày 25 tháng 5 năm 1834. Cha Jaccard Phan chịu án xử giảo vào ngày 21 tháng 9 năm 1838 tại Nhan Biều, Quảng Trị.

Thi hài của cha Gagelin được một người học trò cũ của cha Odoricô và một thầy Giảng của cha Phan cùng với giáo dân rước về an táng trong một ngôi nhà tư của một linh mục Việt Nam thuộc xứ Phú Cam. Trong tiến trình lập hồ sơ các Chứng nhân tử đạo, năm 1846, Đức cha Cuênot Thể cho cải táng thi hài cha Gagelin và chuyển về Chủng Viện Hội Thừa Sai Paris. Văn bản xác nhận thi hài cha Gagelin chịu tử đạo được lập ngày 09 tháng 9 năm 1847.

Ngày 27 tháng 5 năm 1900 Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước Tử Đạo và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn phong Hiển Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988.

 

Nguồn: quangngaicatholic.net

Tags:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

X
%d bloggers like this: