Thánh Gioan Phaolo II sinh tại Wadowice, Ba Lan. Ngài là vị giáo hoàng đầu tiên không phải người Ý kể từ thế kỉ XVI. Khi còn trẻ, ngài là một diễn viên, một vận động viên trượt ván, một tay đua thuyền Kayak và là một nhà hoạt động xã hội. Ngài lên lớn trong thời điểm cực kì khó khăn dưới chế độ cai trị của Đức quốc xã và Cộng sản của Ba Lan. Điều này làm cho ngài phải nghiên cứu học hành để trở thành một linh mục trong bí mật. Là một người cực kì thông thái và sáng suốt, sau khi chịu chức linh mục, ngài đã được gửi đến Rôma để tiếp tục học. Cũng chính nơi đây, ngài đã có cơ hội tiếp xúc và lĩnh hội rất nhiều từ các nhà thần học lỗi lạc thời bấy giờ. Ngài không bao giờ đánh mất tình yêu của mình dành cho những người vô gia cư. Trong một chuyến du hành bằng thuyền Kayak, ngài đã nhận được tin báo: Đức Chân phước Giáo hoàng Piô XII đã chọn ngài để trở thành giám mục phụ tá. Ngài biết ít nhất 12 ngôn ngữ; ngài được chọn làm tổng giám mục Krakow và là tham dự viên của Công đồng Vatican II.

Ngài được bầu để trở thành Vị đại diện Đức Kitô vào năm 1978, và nhanh chóng trở thành một trong những vị Giáo hoàng có ảnh hưởng nhất trong lịch sử Giáo Hội. Ngài đã đưa Giáo Hội ra khỏi tình trạng hỗn loạn trong những thập niên 1960 và 1970. Ngài góp phần chấm dứt chế độ Cộng sản ở Châu Âu, thăm 139 quốc gia, phong chân phước cho 1338 vị và tuyên phong 428 vị thánh. Ngài đã ban hành 14 thông điệp, 14 tông thư và 45 thư chung. Ngài còn là vị tông đồ cho sứ điệp và lòng sùng mộ Lòng Thương Xót Chúa của Thánh Faustina Kowalska; ngài thiết lập Chúa nhật Lòng Thương xót và ban bố những giáo huấn mang tính đột phá về chủ để này, cụ thể ngài đã giới thiệu bộ môn thần học thân xác.

Ngày 13 tháng 5 năm 1981, dịp kỉ niệm lần hiện ra đầu tiên của Đức Maria tại Fatima, Thánh Giáo hoàng đã bị bắn tại quảng trường thánh Phêrô do một người Hồi giáo Thổ Nhĩ Kì, Mehmet Ali Agca. Có một chuyện sau này được kể lại rằng, trước khi bị bắn, ngài đã thấy một luồng sáng chiếu rọi vào một thiếu nữ đang nắm giữ holy card của Mẹ Fatima. Chính Đức Mẹ đã gìn giữ ngài trong ngày đó và ngài cũng tin chắc như vậy. Vào ngày 7 tháng 10 năm đó, vào ngày lễ Đức Mẹ Mân Côi và cũng là buổi tiếp kiến chung đầu tiên sau khi bình phục, ngài đã đưa ra dấu chứng cho sự liên kết giữa việc ngài bị bắn và biến cố hiện ra tại Fatima. Không thể tin được, một âm mưu ám sát thứ hai được tổ chức một năm sau đó vào ngày 12 tháng 5 năm 1982, cũng chính tại Fatima. Trong chuyến hành hương của ngài đến Fatima để tạ ơn Mẹ về việc đã gìn giữ ngài khỏi cuộc mưu sát 1 năm trước đó, một linh mục Công giáo thuộc Binh đoàn Thánh Piô X, tên mà Juan Maria Fernandez Krohn, đã lập mưu để giết ngài. Vị tu sĩ li giáo này đã cố gắng để đâm Đức Giáo hoàng bằng một lưới lê, nhưng thất bại. Một lần nữa, Đức Mẹ lại ra tay cứu giúp ngài. Sau đó, năm 1995, một thành viên của tổ chức Al-Qaeda đã lập kế hoạch để sát hại ngài bằng cách thức đánh bom liều chết. Nhưng điều đó đã bị ngăn chặn một tuần trước khi Đức Gioan Phaolo II viếng thăm Philipine nhân dịp ngày Đại hội Giới trẻ thế giới. Áo choàng của Mẹ luôn phủ bóng trên thánh Gioan Phaolo II.

Sau biến cố đó, ngài sống được hơn 10 năm, và vào đêm vọng ngày lễ Lòng Thương xót Chúa năm 2005, ngài đã an nghỉ trong bình an. Vì những hoạt động tông đồ vĩ đại và linh thánh, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolo II thực sự xứng đáng để được nhìn nhận là thánh Gioan Phaolo Cả.

Lòng Sùng Kính Kinh Mân Côi

Karol Wojtyla có một tình yêu thuận thảo với Đức Maria. Sau khi thân mẫu qua đời khi ngài còn rất trẻ, ngài đã tín thác cuộc đời mình cho sự bảo trợ của Đức Maria và hoàn toàn đặt niềm tin tưởng nơi Mẹ. Ngài bị ảnh hưởng rất nhiều từ những kiệt tác về Đức Maria của thánh Lui de Mongpho và ngài nói rằng việc đọc cuốn Lòng sùng mộ chân thành với Đức Nữ trinh diễm phúc là cột mốc quan trọng trong đời ngài. Thực vậy, khi được chọn làm Người đại diện Đức Kitô, ngài đã chọn một câu trong tác phẩm của thánh Lui làm châm ngôn Giáo hoàng của mình: “Totus Tuus”, nghĩa là “Tất cả là của Mẹ”. Trong những hội đàm giáo lí về Đức Maria và về vai trò hiền mẫu của Đức Maria trong Kitô giáo, ngài luôn nhấn mạnh rằng: thật là điều không thể khi con người muốn thấu hiểu Giáo Hội mà lại không hướng nhìn về Đức Maria. Bởi vì không một ai có thể gửi đến cho chúng ta sự hiểu biết về Đức Kitô, Con Mẹ, tốt hơn là chính người Mẹ của Ngài.

Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolo II cổ động phong trào Bác ái Đức Maria và hội Legion Maria ở bất cứ nơi nào ngài đặt chân đến. Trong những chuyến tông du khắp thế giới với cương vị Giáo hoàng, ngài cực kì vui thích việc viếng thăm những ngôi thánh đường của Đức Maria. Trong những chuyến viếng thăm này, ngài tạo ra những cơ hội để nói về Đức Maria như Đấng trung gian của chúng ta, như kiệt tác của Lòng Thương xót Chúa, như khuôn mẫu của đời sống thánh thiện Kitô giáo và như người nữ của Hiến lễ Tạ ơn, người sẽ dẫn chúng ta đến với Hiện Hữu Chân Thực của Đức Kitô. Ngài khuyến khích mọi thành viên của Giáo Hội, đặc biệt là những người trẻ, hãy cổ võ lòng sùng mộ Đức Maria và dẫn đưa Đức Maria vào tất cả lời nói và việc làm của chúng ta.

Khi bị bắn vào năm 1981, trong suốt ca phẫu thuật để lấy viên đạn ra, ngài yêu cầu các bác sĩ đừng cởi bỏ Chiếc áo Đức bà của ngài. Trong thời gian điều trị tại bệnh viện Gamelli ở Rôma, ngài đã tìm hiểu về hai điều: thứ nhất là những bí mật mà Đức Maria đã trao cho các trẻ nhỏ ở Fatima và thứ hai là cuốn nhật kí của thánh Faustina. Năm 1984, một năm sau khi đã bình phục hoàn toàn, ngài trao phó thế giới cho Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ. Theo tôi tớ Chúa Lucia dos Santos, việc làm này của ngài nhằm thực hiện lệnh truyền của Đức Maria, rằng thế giới, cụ thể là nước Nga phải được dâng hiến cho Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ. Một năm sau, ngài tuyên bố thành lập Năm Đức Maria được tổ chức từ năm 1987 đến năm 1988, đồng thời ngài cũng ban bố thông điệp về Đức Maria mang tên Redemtoris Mater (Mẹ Đấng Cứu Thế). Một thời gian ngắn sau biến cố này, một phần của Liên bang Xô-viết bị sụp đổ và chế độ Cộng sản chấm dứt hoàn toàn tại Nga.

Chiến Sĩ Kinh Mân Côi

Tình yêu vĩ đại của thánh Gioan Phaolo II với Kinh Mân Côi có thể được bắt nguồn từ những năm tháng thời thanh niên ở Ba Lan. Bắt đầu từ năm 1940, Karol Wojtila tham dự vào nhóm Mân Côi sống động, một phong trào được khởi xướng bởi tôi tớ Chúa Jan Tyranowski. Trong nhóm này, mỗi thành viên nhận được một mầu nhiệm Mân Côi cho riêng mình để suy niệm trong một tháng, đọc một chục mỗi ngày đồng thời suy gẫm về mầu nhiệm của mình. Cũng trong thời điểm này, Jan Tyranowski yêu cầu ngài đọc tác phẩm Lòng sùng mộ chân thành với Đức Nữ trinh diễm phúc của thánh Lui de Mongpho. Mẫu gương về lòng sùng mộ của Tyranowski là điều ảnh hưởng chính yếu đối với Wojtyla. Một vài sử gia đã nói rằng nếu không có Tyranowski thì có lẽ Wojtyla sẽ không bao giờ trở thành một linh mục. Năm 1948, ngay khi trở thành linh mục, cha Wojtyla khởi xướng nhóm Mân Côi sống động cho những người trẻ ngay tại giáo xứ của ngài. Năm 1996, Giáo hoàng Gioan Phaolo II hồi tưởng lại những kỉ niệm về người bạn và người thầy của ngài là Jan Tyranowski và gọi anh ấy là “vị tông đồ tuyệt diệu của Mân Côi sống động”. Ngoài chức vụ linh mục, giám mục, hồng y và giáo hoàng, thánh Gioan Phaolo II còn là vị tông đồ nhiệt thành của Kinh Mân Côi.

Khi còn làm giám mục Krakow, ngài thường xuyên tổ chức những cuộc viếng thăm Vương cung thánh đường dâng kinh Đức Maria của tổng giáo phận Krakow, mang tên Kalvaria Zebrzydowska. Tại đây, ngài vừa đi bộ trên những con đường mòn, vừa đọc Kinh Mân Côi. Vào mùa đông, khi tuyết và băng phủ kín mặt đất, ngài đi xung quang ngôi thánh đường với một tay cầm chiếc gậy trượt tuyết và tay kia là chuỗi Mân Côi. Ngày nay, người ta đã cho dựng bức tượng thánh Gioan Phaolo II đang cầm chuỗi Mân Côi, ngay trước đến thờ này. Khi làm hồng y, ngài được Đức chân phước Giáo hoàng Phaolo VI mời đến Vatican để giúp giáo triều tĩnh tâm Mùa Chay; và ngài đã chứng thực lòng sùng mộ của mình với Kinh Mân Côi bằng việc chọn Kinh Mân Côi và những mầu nhiệm của kinh ấy làm chủ đề cho những bài diễn thuyết của mình.

Sau khi được bầu làm Giáo hoàng vào ngày 16 tháng 10 năm 1978, chỉ 2 tuần ngay sau đó, ngài đã tuyên bố với toàn thế giới Kinh Mân Côi chính là lời kinh yêu thích của ngài. Cũng trong ngày đó, ngài đã xác nhận Kinh Mân Côi là lời kinh commentary trong tông thư Lumen Gentium (Ánh sáng muôn dân), một văn kiện từ công đồng Vaticano II, bao gồm 1 chương về Đức Maria. Trong suốt nhiệm kì Giáo hoàng của ngài, rất hiếm khi người ta thấy ngài không làm một điều gì đó mà không nhắm đến việc cổ động Kinh Mân Côi. Vào ngày 3 tháng 3 năm 1979, ngài bắt đầu thực hiện chương trình đọc Kinh Mân Côi trên đài Vatican vào mỗi thứ 7 đầu tháng. Ngày 21 tháng 10 năm 1979 ngài viếng thăm thánh đường Đức Maria ở Pompeii; năm 1980, ngài tuyên phong chân phước cho Batolo Longo, vị tông đồ Kinh Mân Côi. Năm 1981, ngài cổ động chương trình Kinh Mân Côi gia đình qua Tông huấn Familiaris Consortio (Bổn phận của các gia đình); vào năm 1982, ngài viếng thăm nơi an nghỉ của thánh Đa minh tại Bologna.

Giữa vô vàn những biến cố hiển hiện của Kinh Mân Côi trong triều đại của ngài, có hai biến cố nổi bật nhất. Biến cố đầu tiên vào ngày 19 tháng 11 năm 1996, ngài đến nhà thờ thánh Laurenso-Sevre ở Pháp và cầu nguyện trước mộ của thánh Lui de Mongpho. Biến cố thứ hai vào năm 2002, ngài ban bố Tông thư Rosarium Virginis Mariae. Trong tông thư này, ngài trao cho Giáo Hội 5 mầu nhiệm sáng và tuyên bố từ ngày 7 tháng 10 năm 2002 đến ngày 7 tháng 10 năm 2003, Giáo Hội sẽ tổ chức Năm Mân Côi. Chính ngài đã bế mạc Năm Mân Côi bằng việc thực hiện một chuyến viếng thăm đến Vương cung thánh đường Đức Maria Mân Côi ở Pompeii.

Thánh Gioan Phaolo II là vị giáo hoàng thực hiện nhiều chuyến tông du nhất trong lịch sử và ngài luôn mang chuỗi Mân Côi bên mình tại bất cứ nơi nào ngài đến. Ngài tặng chuỗi Mân Côi cho mọi người khi tiếp kiến ngài và khuyến khích những người trẻ trong những dịp Đại hội Giới trẻ thế giới hãy đọc lời kinh ấy. Ngài yêu cầu mọi người phải cổ võ Kinh Mân Côi với sự hăng hái và tin tưởng; ngài cũng dạy rằng Kinh Mân Côi là cách thức phù hợp và xứng đáng nhất cho đời sống chiệm niệm của Kitô hữu. Năm mầu nhiệm Sáng là cách thứ để mài dũa hay phục hồi lại vũ khí thần linh của Kinh Mân Côi.

 

rích từ Donald H. Calloway, MIC, Champions of the Rosary, the history and the heros of a spiritual weapon,
Marian Press, 2016
(Bản dịch Việt ngữ: Học Viện Đa Minh)
Tags:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

X
%d bloggers like this: